Thứ tư, 28/10/2026, 18:51 (GMT+7)

Giáo sư Stanford lỡ cuộc gọi báo tin nhận giải Nobel lúc giữa đêm

Giáo sư Stanford lỡ cuộc gọi báo tin nhận giải Nobel lúc giữa đêm

Khi đại diện Hội đồng Nobel Thụy Điển gọi điện báo tin mừng đến Mỹ lúc 0h27 ngày 5/10, giáo sư Karl Deisseroth đã lỡ cuộc gọi này.

Vài giây sau, điện thoại của vợ ông, bác sĩ, tiến sĩ Michelle Monje-Deisseroth, đổ chuông. Người vợ nhận máy, nghe câu hỏi ngắn gọn từ đầu dây bên kia: “Chúng tôi có thể nói chuyện với Karl được không?”.

“Tôi vô cùng hạnh phúc. Dù biết mình có phần ưu ái chồng, nhưng anh ấy thực sự đã tạo ra những bước tiến đột phá cho ngành khoa học thần kinh và nhiều lĩnh vực khác”, bà Monje-Deisseroth, giáo sư Ung thư Thần kinh Nhi khoa tại Stanford Medicine, chia sẻ. “Tôi rất tự hào về anh ấy”.

Khoảnh khắc nhận tin được vinh danh, ông Deisseroth, 54 tuổi, “rất bất ngờ”. “Lúc đó tôi nghẹn ngào đến mức không thốt thành lời trong khoảng 30 giây. Mọi thứ quá đỗi ngỡ ngàng và choáng ngợp. Nhưng Michelle thì… chẳng ngạc nhiên chút nào, có lẽ vì cô ấy đã luôn tin tưởng vào những cống hiến của tôi”, ông chia sẻ.


Bà Michelle Monje-Deisseroth chia sẻ niềm vui với chồng tại nhà sáng 5/10. Ảnh: AP

Bà Michelle Monje-Deisseroth chia sẻ niềm vui với chồng tại nhà sáng 5/10. Ảnh: AP

Không lâu sau, trong phòng khách ngập tràn kệ sách và ảnh gia đình, tân chủ nhân giải Nobel Y sinh năm 2026 vừa nhấp từng ngụm cà phê từ chiếc cốc in dòng chữ nổi tiếng trong bộ phim Game of Thrones: “Tôi làm vậy đó, tôi uống và tôi biết mọi thứ” mà hai vợ chồng đều yêu thích, vừa liên tục trả lời phỏng vấn. Bà Monje-Deisseroth dí dỏm đính chính rằng thực tế thì chồng bà… “biết mọi thứ” thật, ít nhất là trong lĩnh vực của ông.

TS.BS Deisseroth, hiện giảng dạy ngành Kỹ thuật Sinh học, Tâm thần học và Khoa học Hành vi tại Đại học Stanford, được xướng tên cùng hai giáo sư người Đức là Peter Hegemann và Georg Nagel. Công trình đoạt giải của họ là quang di truyền học (optogenetics), một kỹ thuật mang tính đột phá giúp kích hoạt hoặc ức chế tế bào thần kinh bằng ánh sáng, mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong việc tìm hiểu não bộ.

“Quang di truyền học mang lại cơ hội xây dựng bản đồ não bộ theo cách mà trước đây chúng ta chỉ biết ước mơ”, giáo sư Per Svenningsson, Chủ tịch Ủy ban Nobel Y sinh, nhận định.

Đánh giá về công trình này, tiến sĩ Lloyd Minor, Trưởng khoa Y Đại học Stanford, khẳng định sự sáng tạo phi thường cùng tư duy kết nối đa ngành của giáo sư Deisseroth đã trao cho giới khoa học công cụ mạnh mẽ để khám phá sự phức tạp của não bộ, giúp tìm ra lời giải cho những câu hỏi từng nằm ngoài tầm với và thắp lên hy vọng về các phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân trên toàn thế giới.

Tiến sĩ Jennifer Widom, Trưởng khoa Kỹ thuật Đại học Stanford, nhấn mạnh: “Giải Nobel dành cho Karl Deisseroth là minh chứng cho tầm nhìn đột phá của ông, nơi sự chính xác của kỹ thuật hòa quyện cùng trí tò mò vô hạn và lòng trắc ẩn sâu sắc”. Theo bà, công trình này đã tạo ra cuộc cách mạng trong khoa học thần kinh, cung cấp những công cụ chưa từng có để khám phá các bí ẩn phức tạp nhất của bộ não.

Dù sinh ra trong gia đình có cha mẹ đều là nhà khoa học, giáo sư Deisseroth từng chia sẻ với tờ The New York Times năm 2014 rằng “tình yêu đầu đời của ông lại là viết lách”. Ban đầu ông dự định theo đuổi ngành phẫu thuật thần kinh nhưng sau đó chuyển hướng vì ấn tượng mạnh mẽ khi tiếp xúc với những bệnh nhân sống trong một thực tại hoàn toàn khác trong đợt luân khoa tâm thần tại Stanford Medicine.


Karl Deisseroth cười tươi sau khi biết tin là tân chủ nhân giải Nobel Y sinh 2026. Ảnh: AP

Karl Deisseroth cười tươi sau khi biết tin là tân chủ nhân giải Nobel Y sinh 2026. Ảnh: AP

“Quang di truyền học là động cơ thúc đẩy các khám phá, giúp thăm dò các hệ thống phức tạp ngay từ cấp độ tế bào cốt lõi”, ông Deisseroth chia sẻ. “Chúng tôi muốn hiểu cách bộ não vận hành trọn vẹn để tạo ra nhận thức, hành vi và cảm giác phức tạp, dù tất cả đều bắt nguồn từ từng tế bào đơn lẻ. Chúng tôi đang từng bước làm rõ cơ chế hoạt động của một bộ não khỏe mạnh cũng như nguyên nhân khiến mọi thứ đi lệch hướng”.

Theo giáo sư, nguyên lý cốt lõi của phương pháp này là can thiệp chính xác để tìm ra mối quan hệ nguyên nhân – kết quả, từ đó hướng tới việc điều chỉnh các bất thường chức năng. “Một khi đã biết chính xác tế bào nào đóng vai trò tạo ra hoặc chữa lành một triệu chứng, bạn hoàn toàn có thể thiết kế bất kỳ phương pháp nào để can thiệp trúng đích vào hoạt động của tế bào đó”, ông nói.

Trước khi quang di truyền học ra đời, giới nghiên cứu não bộ chủ yếu dựa vào hai công cụ truyền thống: kích thích bằng dòng điện và dùng thuốc. Việc kích thích điện giúp các neuron phản ứng ngay lập tức nhưng lại vô tình làm ảnh hưởng lan sang cả các tế bào và mạch thần kinh lân cận. Thêm vào đó, dù dòng điện có thể kích hoạt neuron, nó lại không thể ức chế chúng một cách chuẩn xác, trong khi việc kiềm chế tế bào lại là chìa khóa then chốt để hiểu rõ chức năng não.

Phương pháp dùng thuốc cũng thiếu tính chính xác. Dù có thể chọn lọc loại tế bào để kích hoạt hoặc ức chế, thuốc vẫn tác động tràn sang các mạch thần kinh xung quanh. Đồng thời, thuốc bị khuếch tán rộng và chuyển hóa chậm, khiến chúng trở thành một phương pháp can thiệp kém hiệu quả.

Hãy tưởng tượng chúng ta có thể điều khiển hoạt động của các tế bào thần kinh trong một bộ não đang sống bằng ánh sáng để điều phối tín hiệu và quan sát kết quả. Công nghệ mới này kết hợp giữa quang học, kỹ thuật di truyền cùng nhiều ngành khoa học khác, dùng chính ánh sáng để điều khiển các tín hiệu chạy dọc dây thần kinh: ánh sáng xanh có tác dụng kích hoạt, còn ánh sáng vàng có tác dụng ức chế tế bào thần kinh.

Cả hai tác động đều dựa vào opsin, nhóm protein cảm quang nằm trên màng tế bào có nguồn gốc từ vi sinh vật. Loại protein này đã được nghiên cứu sâu trước năm 2004, thời điểm nhà khoa học trẻ Deisseroth bắt tay vào dự án. Ông cùng hai nghiên cứu sinh đã kế thừa phát hiện từ Viện Max Planck: một loại opsin trích xuất từ tảo, khi gặp ánh sáng xanh, sẽ mở đường cho dòng ion chạy vào tế bào.

Nhóm nghiên cứu đã biến đổi gene protein opsin để nó xuất hiện trên màng các tế bào thần kinh mong muốn ở chuột, giúp tế bào “phát xung” mỗi khi chiếu ánh sáng xanh. Kỹ thuật này được công bố trên tạp chí Nature Neuroscience vào năm 2005 và hiện trở thành công cụ được sử dụng phổ biến.

Để nâng cao tính thực tiễn, nhóm đã thiết kế kỹ thuật cấy một sợi cáp quang siêu mỏng và mềm dẻo vào não chuột đang sống. Nhờ đó, các nhà khoa học có thể chiếu ánh sáng từ xa trực tiếp vào từng tế bào hoặc mạch thần kinh mục tiêu, qua đó trực tiếp điều khiển hành vi của con vật. Đồng thời, nhóm cũng chế tạo thành công một loại opsin mới kích hoạt bởi ánh sáng vàng, có khả năng ức chế và làm ngừng hoạt động của tế bào thần kinh.

Ngày nay, giới khoa học thần kinh đã ứng dụng nhiều dải màu ánh sáng khác nhau và có thể điều phối hoạt động của tế bào mà không nhất thiết phải qua biến đổi gene trực tiếp. Nhờ công nghệ này, giáo sư Deisseroth cùng cộng sự đã làm thuyên giảm các triệu chứng bệnh Parkinson trên mô hình chuột, đồng thời kiểm soát hành vi giao tiếp xã hội và giúp giảm bớt các biểu hiện trầm cảm trong nghiên cứu.

Tại Stanford, ông xây dựng chương trình đào tạo quang di truyền học cho hàng nghìn nhà khoa học và chia sẻ mã gene opsin biến đổi tới các phòng thí nghiệm trên toàn thế giới. Công nghệ này còn được mở rộng sang nghiên cứu tế bào cơ tim, tuyến tụy và có tiềm năng kết hợp với liệu pháp gene để hỗ trợ phục hồi chức năng vận động cho người bị liệt hay cải thiện thị lực cho người khiếm thị.

Bên cạnh công tác nghiên cứu và giảng dạy với tư cách là Giám đốc Chương trình Đại học ngành Kỹ thuật Sinh học tại Stanford, giáo sư Deisseroth vẫn trực tiếp thăm khám cho các bệnh nhân mắc trầm cảm kháng trị và rối loạn phổ tự kỷ bằng các phương pháp điều trị lâm sàng hiện hành.


Giáo sư Deisseroth hiện vừa giảng dạy, nghiên cứu vừa trực tiếp thăm khám cho các bệnh nhân mắc trầm cảm kháng trị và rối loạn phổ tự kỷ. Ảnh: AP

Giáo sư Deisseroth hiện vừa giảng dạy, nghiên cứu vừa là bác sĩ lâm sàng tâm thần trực tiếp thăm khám cho các bệnh nhân mắc trầm cảm kháng trị và rối loạn phổ tự kỷ. Ảnh: AP

Sinh ngày 18/11/1971 tại Boston, ông tốt nghiệp thủ khoa ngành Khoa học Sinh hóa tại Đại học Harvard năm 1992, nhận bằng tiến sĩ Khoa học Thần kinh năm 1998 và Bác sĩ Y khoa năm 2000 tại Stanford. Ông trở thành nghiên cứu viên tại Viện Y khoa Howard Hughes năm 2014 và là chủ nhân của hàng loạt giải thưởng danh giá như Giải Asan, Japan Prize, Horwitz, Lasker… Ông cũng được bầu vào Viện Y học, Viện Hàn lâm Khoa học, Viện Hàn lâm Kỹ thuật Quốc gia Mỹ và Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Đức. Năm 2021, ông xuất bản cuốn sách Projections: A Story of Human Emotions tái hiện những trải nghiệm lâm sàng sâu sắc với bệnh nhân tâm thần, hiện đã được dịch ra hơn 15 ngôn ngữ trên thế giới.

Bình Minh (Theo Stanford Medicine)

3 phút đọc

Tin tức cập nhật 24H